CHUYỂN MÌNH TỪ DOANH NGHIỆP NHỎ SANG DOANH NGHIỆP LỚN (P1)

Phần 1: Những khó khăn không thể tránh khỏi – Đâu là cách giải quyết

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Sách Trắng doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam năm 2016 công bố, Việt Nam có tới 600.000 doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ, đóng góp đến 50% GDP. Trong giai đoạn phát triển, sự chuyển mình mạnh mẽ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiến đến doanh nghiệp lớn là việc không-sớm-thì-muộn. Song đương nhiên trong sự chuyển mình này, không thể không có những khó khăn cản trở.

THỰC TRẠNG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

  • Mức độ lạc quan thấp:

Các doanh nghiệp này có mức độ lạc quan thấp, chỉ có 43% doanh nghiệp siêu nhỏ, 54% doanh nghiệp nhỏ cho biết họ dự kiến mở rộng quy mô kinh doanh trong 2 năm tiếp theo. Chỉ có 3% doanh nghiệp siêu nhỏ, 4% doanh nghiệp nhỏ và gần 9% doanh nghiệp quy mô vừa có khách hàng là các cá nhân, doanh nghiệp ở nước ngoài. Phần lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ hình thành từ hộ kinh doanh; các doanh nghiệp dân doanh trong nước phần lớn vẫn quẩn quanh ở thị trường nội địa. Điều này khiến không ít chuyên gia lo ngại rằng, tới đây, với sức ép hội nhập lớn hơn rất nhiều các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó có thể tăng năng suất, hiệu quả kinh tế và hội nhập thành công được.

  1. Tiêu cực trong môi trường kinh doanh:

Khi đánh giá về môi trường kinh doanh tại các địa phương năm 2015, doanh nghiệp vừa và nhỏ có cảm nhận tiêu cực hơn các doanh nghiệp lớn trên một số lĩnh vực: tiếp cận đất đai, tính minh bạch, cạnh tranh bình đẳng và hỗ trợ doanh nghiệp. Khoảng 65% doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ cho biết, hiện tượng chi trả chi phí không chính thức là thường xuyên, trong khi đó chi phí cho hoạt động thường xuyên của doanh nghiệp vẫn khá lớn, trong đó tính trung bình, nếu sau một năm hoạt động không hiệu quả và ngừng hoạt động, doanh nghiệp tốn khoảng 100 triệu đồng cho các loại chi phí này.

  1. Khi tự phát ban đầu đem lại tiêu cực về sau:

Bên cạnh đó, hoạt động khởi sự doanh nghiệp thường mang tính tự phát, thiếu những nghiên cứu, triển khai bài bản, đúng hướng… dẫn tới những thất bại đáng tiếc, trong đó không ít doanh nghiệp phải chấp nhận phá sản. Thống kê cho thấy, số lượng doanh nghiệp giải thể hàng năm không hề nhỏ, chẳng hạn năm 2013 có 60.737 doanh nghiệp giải thể, năm 2014 có 67.823 doanh nghiệp và năm 2015 81.000 doanh nghiệp.

Tổng số doanh nghiệp gặp khó khăn phải tạm ngừng hoạt động đang ngày càng tăng lên. Với số lượng doanh nghiệp đóng cửa mỗi năm như trên thì con số phí tổn của nền kinh tế là không nhỏ. Điều này không chỉ gây tổn thất cho các chủ doanh nghiệp mà còn gây ra lãng phí các nguồn lực xã hội. Cùng với đó, việc chuyển mình, phát triển lên doanh nghiệp “đủ lớn” ngày càng khó khăn với những doanh nghiệp này.

ĐÂU LÀ GIẢI PHÁP THIẾT THỰC?

Một là, sớm xây dựng và ban hành Luật Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm giải quyết những nguyên nhân, tồn tại và hạn chế trong thực hiện trợ giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ, qua đó vừa đảm bảo tính đồng bộ của chính sách, vừa có tính hiệu lực pháp lý cao nhất cũng như thúc đẩy việc thực thi.

Hai là, tạo môi trường kinh doanh công bằng cho tất cả các loại hình doanh nghiệp, đồng thời khuyến khích tinh thần khởi nghiệp quốc gia. Trong đó, theo Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ, triết lý văn hóa của doanh nghiệp dân tộc là không phân biệt doanh nghiệp lớn hay nhỏ, doanh nghiệp hay tư nhân. Phải có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp này theo đúng nguyên tắc của thị trường và thông lệ quốc tế, không phân biệt đối xử.

Ba là, thay đổi cách thức hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ. Theo đó, từ trước tới nay, việc hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa được ổn định, thường chỉ khi nào doanh nghiệp khó khăn thì mới hỗ trợ. Tuy nhiên, cách thức hỗ trợ cần thay đổi theo hướng hỗ trợ những doanh nghiệp có tiềm năng cạnh tranh vươn lên gặp khó khăn tạm thời.

Bốn là, nghiên cứu xây dựng kho ngoại quan ở các thị trường xuất khẩu trọng điểm. Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ đưa hàng vào kho ngoại quan, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc tiêu thụ sản phẩm. doanh nghiệp vừa và nhỏ có trách nhiệm góp vốn đầu tư hoặc thuê hạ tầng của kho ngoại quan để sử dụng. Phát triển đồng bộ thị trường hàng hoá, dịch vụ và thị trường các yếu tố đầu vào của sản xuất để tạo điều kiện cho doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động có hiệu quả, có các nguồn lực để phát triển sản xuất kinh doanh…

Năm là, tăng cường xúc tiến thương mại và quản lý thị trường; Phát triển quan hệ hợp tác giữa doanh nghiệp vừa và nhỏ với doanh nghiệp lớn, giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp FDI; Khuyến khích phát triển các cụm công nghiệp, các dịch vụ phát triển kinh doanh; Đẩy mạnh hợp tác với các tổ chức quốc tế, đặc biệt là các quỹ đầu tư quốc tế nhằm tìm kiếm nguồn vốn đầu tư tài chính cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiềm năng.

Kết luận: Đứng trước những thách thức trên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần tập trung đầu tư vào năng lực quản lý, chất lượng nguồn nhân lực, cũng như không ngừng cập nhật những kiến thức và nâng cao năng lực quản trị chuỗi cung ứng.

Một khi những hoạt động trong chuỗi cung ứng được quản lý hiệu quả, theo chuẩn mực thì doanh nghiệp có thể đạt được những cải thiện nhanh liên quan đến giảm chi phí, giảm vốn lưu động, rút ngắn thời gian sản xuất, linh hoạt hóa phản hồi với những biến động của thị trường, và nâng cao hiệu suất vận hành, tất cả những yếu tố giúp doanh nghiệp bình ổn hóa trong ngắn và trung hạn để có thể tìm hiểu và xây dựng một chiến lược tổng thể giúp định hướng trong dài hạn, nhanh chóng chuyển mình thành doanh nghiệp lớn.

Tham khảo và tổng hợp:

  1. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (2016);
  2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Báo cáo về tình hình hoạt động doanh nghiệp quý I/2016;
  3. Tạp chí tài chính – 2016
  4. Hạnh Nguyên, “Phải có chính sách làm cho các doanh nghiệp dân tộc mạnh lên”, Vietnamnet (2016).

 

 

094.232.6060 Đặt ngay

Đăng nhập tài khoản